Trước khi Quốc hội ưng chuẩn quyết nghị về giám sát, cuộc dò hỏi quan điểm đại biểu Quốc hội cho thấy chuyên đề này đã nhận được nhiều ý kiến đề nghị giám sát hơn cả (280 ý kiến). Tuy nhiên, không chỉ có các nhà lập pháp mặc cả các nhà quan sát quốc tế và trong nước cũng coi tiến trình tái cơ cấu nói chung, tái cơ cấu DNNN nói riêng là một điểm tựa, một yếu tố quan yếu quyết định sự thành công trong phát triển kinh tế - tầng lớp của nước ta.Theo dõi tiến trình này, một nhận định chính trực đã được nhiều quan điểm thống nhất: chậm và vướng! TS Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương đã san sẻ ý kiến của mình với Báo SGGP. Phân loại ngược? | | "Nơi nào làm được đồng bộ 4 nội dung là đổi mới phương thức quản lý sản xuất; nâng cao hiệu quả quản lý chủ sở hữu; phát huy vai trò, công tác Đảng trong doanh nghiệp quốc gia; thực hành nghiêm quy chế nội bộ, quản lý nội bộ ở các doanh nghiệp quốc gia sẽ thu được kết quả hăng hái và trái lại" Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh |
| | |
Chỉ nhìn vào một khâu cụ thể trong rất nhiều khâu của tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, cũng là một trong những nội dung được hồ hết các quan điểm tán thành cao về sự cấp thiết đó là thoái vốn đã đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhưng vẫn còn rất nhiều vướng mắc. Mặc dầu mục tiêu, cách làm đã được đặt ra khá rõ ràng là thoái vốn trên cơ sở tính theo giá thị trường và vận hạn hoàn tất trước năm 2015, nhưng thực tiễn chúng ta đã làm được gì? có nhẽ việc đã làm được quan trọng nhất là phân loại, xác định ngành nghề chính - phụ. Đáng nói, phần nhiều sự phân loại này lại dựa trên đề xuất của các tập đoàn, tổng công ty mà không phải theo một bộ tiêu chí rõ ràng, lên đường từ chủ sở hữu quốc gia. Nếu thuận theo logic thì chính “ông chủ sở hữu” quốc gia phải định vị rõ về vai trò và sứ mệnh cụ thể của các tập đoàn, tổng công ty của mình; rồi từ sứ mệnh đó mới xác định được ngành nghề kinh dinh chính - phụ.
Nói cách khác, khâu phân loại đã làm xong, nhưng là phân loại theo kiểu từ dưới đưa lên. Và như thế khó có thể triệt để, dứt khoát thoái vốn ra khỏi nhiều lĩnh vực, trừ một số ngành chẳng thể nào biện minh là “ngành nghề liên quan”. Tính đến ngày 20-5, có 17/21 tập đoàn, tổng công ty đã được phê chuẩn đề án tái cơ cấu; Mặc dù vậy, tôi cho rằng việc khai triển công đoạn thoái vốn theo đúng yêu cầu “giá thị trường” vẫn chưa thể làm được một cách suôn sẻ. Điều này có mấy nguyên cớ...  | Tái cơ cấu tập đoàn, tổng công ty nhà nước còn nhiều việc phải làm. (Ảnh: Công nhân Tổng công ty Điện lực TPHCM). Ảnh: Cao Thăng |
Phát triển vốn là yếu tố tiên quyết Thứ nhất, quan niệm về bảo toàn và phát triển vốn hiện vẫn không ăn nhập với nguyên tắc thị trường và thực tiễn kinh dinh, cụ thể là rất chú trọng kiểu bảo toàn, phát triển vốn theo giá trị sổ sách. Chẳng những thế, lại còn cân đo đong đếm theo vụ việc, tài sản cụ thể; kiểu như tính đến ngày 31-12, năm nay tài sản A được định giá 100 đồng; nếu 31-12, năm sau A được định giá 101 đồng thì được coi đã bảo toàn, phát triển. Cách tính như thế đã bỏ qua phí vốn, tổn phí thời cơ, hay nói cách khác là không tính đến tổn phí vốn vay để duy trì tài sản A, cũng như những dịp để sử dụng A một cách có hiệu quả hơn; tạo ra giá trị kinh tế lớn nhất có thể. Hiểu nôm na bắt A cứ mãi phải là A, trong khi đáng ra nếu biến A thành B hoặc C, nhưng về tổng thể vẫn có lợi hơn hoặc ít lỗ hơn là được.
Bên cạnh đó, chẳng thể đòi hỏi kinh doanh bao giờ cũng có lãi. Chúng ta luôn mong muốn công việc kinh dinh thành công, nhưng nếu không như thế thì cũng chẳng thể cố đấm ăn xôi chịu lỗ mãi được. Một bà nội trợ giỏi sẽ không để mãi một cái bình xấu xí vô dụng ở trong nhà, vì nó vừa chiếm mất chỗ của các đồ dùng khác cần thiết hơn, lại vừa buộc người ta phải mất công lau chùi, bảo dưỡng hàng ngày! Chi bằng thanh lý đi với giá rẻ hơn giá gốc, hài lòng lỗ hoặc mạnh dạn vứt bỏ hẳn để không phải chịu thiệt thêm nữa!?
| | | "Tiến độ canh tân và cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước vẫn vô cùng chậm chạp sau 2 năm, kể từ ngày Chính phủ phê chuẩn chủ trương và lộ trình canh tân. Quá trình cải cách doanh nghiệp khó có thể thành công nếu không có một cơ chế điều phối hữu hiệu và tăng cường tính sáng tỏ" Bà Victoria Kwa Kwa,(Giám đốc nhà nước nhà băng Thế giới tại Việt Nam) |
|
Nếu hợp nhất quan điểm đó thì có rất nhiều điều phải đổi thay. Công tác kiểm tra, thanh tra cũng sẽ phải thay đổi cách đánh giá. Đơn cử, khi coi xét quyết định thoái vốn tại một doanh nghiệp chuẩn xác hay không, cơ quan chức năng sẽ phải cân nhắc kỹ tính thời khắc với những điều kiện rất cụ thể, miễn người quản lý bảo đảm 3 nguyên tắc: giáp, trung thực và thận trọng. Theo tôi biết, thời còn làm Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, nguyên Bộ trưởng Bộ thương nghiệp Trương Đình Tuyển đã quyết định bán một DNNN mà tỉnh này quản lý với giá chỉ 30 tỷ đồng, trong khi doanh nghiệp đó đã được đầu tư tới 53 tỷ đồng. Vấn đề là doanh nghiệp đó thua lỗ triền miên, phải trợ cấp, bù lỗ năm này qua năm khác, nếu không bán cắt lỗ thì số tiền thất thoát không dừng ở đó. Tôi cho rằng vị nguyên bộ trưởng đã quyết định đúng trên cơ sở đánh giá tình hình cụ thể và vì ích chung. Để làm được như thế cần phải có sự dũng cảm, vì phải đối diện nguy cơ rủi ro chính trị, thậm chí bị kỷ luật.
Cũng trên quan điểm “thuận theo nguyên tắc thị trường”, để thu tiền về cho ngân sách thì phải bán đi những thứ có thanh khoản cao trong các lĩnh vực mà quốc gia không cần giữ quyền kiểm soát, như Vinamilk hay Vinaphone chả hạn. Bán được nhiều thì càng tốt, nếu không dù bán được 5% - 10% cũng nên làm. Với sự dự của thành phần kinh tế khác, mô hình quản trị sẽ thay đổi theo hướng tích cực hơn, minh bạch và gần với chuẩn mực kế toán quốc tế hơn. Hoàn thiện các quy định pháp lý Tiến trình thoái vốn khỏi các ngành nghề “nhánh” còn khó khăn vì duyên do rất trực tiếp nữa. Đó là toàn bộ quy trình, quy định về thẩm quyền, cách thức định giá, cách thức bán doanh nghiệp... Đều chưa có hoặc đã có nhưng không ăn nhập.
Đơn cử, có một khu công nghiệp do một tổng công ty nhà nước (ngoài ngành) đầu tư xây dựng, bây chừ bị bỏ hoang, hạ tầng xuống cấp. Dù hạch toán trên sổ sách nó vẫn trị giá tới hàng trăm tỷ đồng, nhưng giá trị thực tế thấp hơn rất nhiều, càng giữ càng lỗ vì phải trả lãi nhà băng... Giờ muốn bán đi cắt lỗ thì ai có thẩm quyền quyết định bán, định giá thế nào? Khung pháp lý bây chừ chưa có quy định về việc này.
Một thí dụ khác, theo quy định hiện hành, cần phải định giá theo thị trường. Ở trường hợp kể trên, tài sản mang tính cá biệt, không có chuẩn để tham chiếu thì “giá thị trường” xác định thế nào? Chỉ khi coi “giá thị trường” ở đây là thuận mua vừa bán, đáp ứng được lợi ích theo xem của các bên trong giao du thì mới tiến hành giao dịch thành công được. Hay yêu cầu bán đấu giá, cũng rất khó. Vì khu công nghiệp khi xây dựng thường đã gắn với quy hoạch cho một vài ngành nghề chuyên biệt rồi, không có nhiều nhà đầu tư có ý đồ đầu tư giống nhau để cùng ganh đua trong cuộc mua đấu giá! Hơn nữa quá trình thương thảo mua bán ở đây cũng giống như mua bán sáp nhập (M&A); quy định phải đem giá đấu giá công khai rất không thích hợp với thực tại, vốn trọng những bí ẩn kinh doanh!
Tóm lại, vẫn còn thiếu nhiều quy định pháp luật cần phải có cho hoạt động này trong khi một số quy định khác cũng cần được sửa đổi. Nếu không thì chẳng thể đẩy nhanh tiến độ thoái vốn được. Mà đó mới chỉ là một khâu trong quá trình tái cơ cấu DNNN. Ngay cả với hạn chót đặt ra cho việc thông qua điều lệ các tập đoàn, tổng công ty (cuối tháng 7- 2013 - PV), tôi cho rằng cũng phải có cách nhìn bản chất hơn. Vấn đề là ở chỗ nội dung, chất lượng của điều lệ đó như thế nào; có chứa đựng được ý thức canh tân hay không; hàm lượng cải cách đến đâu... Không nên trình chuẩn y chỉ để cho kịp hạn vận! Nguyễn Đình Cung(Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương) CẨM HÀ(ghi) | | Trong khoảng 20 năm, số lượng DNNN đã giảm từ 12.000 xuống còn hơn 1.300 DNNN có vốn 100% của quốc gia và khoảng 1.900 doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước trên 50% (tính đến tháng 10-2011). Tuy số lượng giảm, nhưng quy mô các DNNN lại gia tăng đáng kể. Khối này đang nắm giữ tới 32,6% nguồn vốn kinh dinh, 35,4% giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn. Nợ tín dụng của khu vực DNNN chiếm 60% tổng nợ tín dụng của toàn nền kinh tế. Gần 90 tập đoàn, TCT nhà nước đang quản lý gần 366.000 ha đất. Quỹ đất này lớn gấp 5 lần tổng quỹ đất của các cụm công nghiệp địa phương trong cả nước.
(Nguồn:thưa nghiên cứu “Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam: kí vãng, hiện tại và tương lai” - Ủy ban Kinh tế của Quốc hội) |
| | |
*****
Báo SGGP trân trọng kính mời các học giả, nhà nghiên cứu, chuyên gia kinh tế, tài chính, quản lý đô thị… cùng quý độc giả dự viết bài, đóng góp quan điểm, phản hồi cho chuyên mục Góc nhìn chuyên gia. Bài viết, ý kiến phản hồi xin gửi về: Ban Kinh tế - Báo SGGP, 399 Hồng Bàng, phường 14 quận 5 TPHCM. Email: bankinhtesggp@gmail.Com. Trân trọng cảm ơn! |
|