Thứ Năm, 22 tháng 8, 2013

Giải mã chuyện vua hay hay Đinh xét án bằng “hổ dữ, vạc dầu”.

Nhưng đặt trong bối cảnh lịch sử nước Việt thế kỷ thứ X, mới thấy được cái lý trong quy định của Đinh Tiên Hoàng

Giải mã chuyện vua Đinh xét án bằng “hổ dữ, vạc dầu”

Trong  Việt sử toàn thư   được hậu thế viết sau này cũng khẳng định: “Nhờ có hình luật nghiêm khắc này, nền an ninh nhà nước được vãn hồi”. Phải đến thời Hậu Lý (1009 - 1225), cơ quan chuyên trách luật pháp là Bộ Hình và Thẩm hình viện được xây dựng, rồi bộ luật thành văn trước tiên là Hình thư ra đời năm Nhâm Ngọ (1042), lúc ấy nền móng cho pháp luật nước Nam mới có và phát huy vào các đời sau với Quốc triều thông chế nhà Trần, Đại Ngu quan chế hình luật đời Hồ, Quốc triều hình luật thời Lê sơ.

Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, dù là biện pháp mạnh, thậm chí có phần khắc nghiệt, nhưng trong sử sách tự cổ chí kim chưa từng ghi nhận trường hợp nào phạm trọng tội mà bị Đinh Tiên Hoàng bỏ cho hổ xé xác phanh thây, hay phải chịu nghiệp luộc chín trong vạc dầu sôi đỏ lửa.

… Hình phạt bỏ vạc dầu sôi ở Trung Quốc xưa. Chứng thực về sau có nhiều vụ như phò mã Ngô Nhật Khánh phản bội, hay Chi hậu nội nhân Đỗ Thích sát hại vua… mới thấy mầm phản loạn còn rất nhiều. Tiêu biểu là Trụ Vương nhà Thương để vui lòng Đắc Kỷ đã định ra kiểu xét xử “sái bồn” bằng cách đào hố sâu, bỏ rắn độc vào, lột trang phục người bị tội xô xuống cho rắn cắn chết, rồi hình phạt “bào lạc” dùng chiếc cột đồng rỗng ruột đốt lửa đỏ cho nóng, dí nạn nhân vào cho thịt da cháy khét mà chết trong đau đớn.

Cũng bởi mới bước đầu xác lập, xây dựng chế độ phong kiến, nên các triều đại lúc này vào thế kỷ X còn nhiều điểm mang tính nguyên sơ, chưa được hoàn chỉnh. Tần Thủy Hoàng cũng ưa hình pháp, chôn sống người phạm tội, lại kẻ nào dị đồng chính kiến, cho bỏ luôn vào vạc dầu sôi suốt mấy hôm sớm làm bao lăm quan thần phải thiệt mạng.

Nhưng vua vận dụng một biện pháp chưa từng có trong sử nước Nam ta nói chung và Đại Cồ Việt nói riêng. Tiếng rằng đã chế định triều nghi từ thời nhà Ngô với hai ban văn võ, nhưng trong lĩnh vực hình pháp, thì luật pháp thành văn chưa xuất hiện, triều đình xét xử vẫn dùng luật tục trong dân gian là chính yếu.

Giải mã “hổ dữ, vạc dầu”  Các triều đại sau thời Đinh dù khi khép tội tử hình, có những cách xử khác nhau như tùng xẻo, giảo (thắt cổ), trảm (chém đầu), khiêu (chém bêu đầu) hay dùng thuốc độc… nhưng xét ra, biện pháp xử án dùng “hổ dữ, vạc dầu” như nói ở trên xét về tình rõ ràng bất hợp lý.

Hai câu trên trong bài diễn ca lịch sử bằng thơ  Đại Nam quốc sử diễn ca   của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái đời nhà Nguyễn, nói về cách xử án “độc nhất vô nhị” trong sử Việt.

Khi nhà Tiền Lê dứt, nhà Hậu Lý lên nối nghiệp năm Kỷ Dậu (1009), thì đến năm Nhâm Ngọ (1042) đã có luật Hình thư để giản tiện cho việc xử án, tạo điều kiện cho luật pháp nước ta tiến lên một bước mới từ xét xử bằng luật tục, cảm tính lên xét xử bằng luật nước, luật thành văn có sự quy củ, rõ ràng: “Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện.

Thực hư của pháp hình này rao sao?  Kiểu xét án độc nhất vô nhị triều Đinh  Thời nhà Ngô (938 - 965) với Ngô Vương Quyền khai mạc trang sử độc lập, tự chủ của dân tộc ta sau chiến thắng Bạch Đằng năm Mậu Tuất (938), rồi các triều đại nối tiếp về sau là nhà Đinh (968 - 980), nhà Tiền Lê (980 - 1009) củng cố kiên cố nền móng độc lập, tự chủ đó để về sau chế độ phong kiến Đại Việt dần đi vào hoàn thiện, cường thịnh.

Nước có nền tự chủ chưa được bao lâu, loạn 12 sứ quân vừa vãn hồi, ắt trong trần giới vẫn còn nơi này, nơi khác có mầm mống phản loạn.

Trong khi đó, quan chuyên về võ phần đông, đua chọn người tài chưa có, việc chế định luật pháp bởi vậy cũng chưa thể thực hiện. Ngay lời trích dẫn của  Đại Việt sử ký toàn thư   có viết: “Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm”, đủ cho chúng ta thấy biện pháp của Đinh Tiên Hoàng đốn là ngăn ngừa hơn là thực thi.

Dù rằng có tác dụng đáng kể giúp tổ quốc xã tắc trong buổi đầu được yên ổn, nhưng việc xử án không dựa vào văn bản, chế luật khăng khăng của thời Đinh cũng có tác dụng ngược của nó.

Trong  Việt sử toàn thư  , tác giả Phạm Văn Sơn cũng cho biết điều na ná: “Tiên Hoàng Đế ban hành nhiều lệ luật rất khe khắt. Pháp hình cũng lạ xưa nay,    Hùm nuôi trong cũi, vạc bày ngoài sân

Giải mã chuyện vua Đinh xét án bằng “hổ dữ, vạc dầu”

Thời nhà Đinh, Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh sau khi lên ngôi Hoàng đế thì: “Vua định phẩm bậc của các quan văn, võ và tăng đạo: Nguyễn Bặc làm Định Quốc Công, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ Sĩ Sư, Lê Hoàn làm Thập Đạo Tướng quân, Ngô Chân Lưu được hiệu là Khuông Việt Thái sư, Trương Ma Ní làm Tăng Lục Đạo Sĩ” (  Việt sử tiêu án   – Ngô Thì Sĩ).

Vua Đinh trong một chừng đỗi nào đó không thể không bị ảnh hưởng bởi những tiền lệ đã có mà vận dụng cho triều đình của mình.

Thế nên khi nhà Đinh thay nhà Ngô, vua Đinh Tiên Hoàng cũng quan hoài tới vấn đề đó. Còn thế kỷ thứ X thì sao? Đinh Tiên Hoàng cho nuôi hổ dữ trong cũi để xét án. Với việc xử án theo cảm tính, thì khi vua đang có tâm cảnh vui vẻ, ắt xử án khoan thứ, độ lượng.

Theo sử cũ truyền lại: “Vua (Đinh Tiên Hoàng) muốn dùng uy chế ngự trần thế, bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ trong cũi, hạ lệnh rằng: “Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn” (  Đại Việt sử ký toàn thư  ).

Ngài đặt vạc dầu ở trước điện, nuôi hổ báo trong vườn, dựng cột đồng nung đỏ để trị những kẻ gian ác và phản bội”. Trong đó, không dễ thường là không có kẻ phạm tội lớn nhỏ nên hẳn nhiên phải có việc xét xử, kiện tụng án nọ, án kia. Còn đấng kim thượng mà đương cơn nóng giận, nổi trận lôi đình, thì việc không cũng thành có, ít thành nhiều, mà đúng thành sai là điều không thể không tránh khỏi.

Ảnh minh họa. Trong lịch sử Trung Quốc xưa kia, có nhiều vị vua cũng đã từng dùng những biện pháp mạnh để xét xử, khiến dương gian khiếp sợ. Nhưng, trị nước không chỉ là gươm bén, cung căng, giáo dài… mà còn bao việc phải lo để quốc thái dân an. Tại thế kỷ X, việc nuôi hổ dữ trong cũi sắt, nấu dầu sôi giữa sân điện không tồn tại trong đời Ngô trước đó và đời Tiền Lê sau này, duy chỉ có ở đời vua Đinh Tiên Hoàng.

Như vậy, dẫu hổ dữ có nuôi, vạc dầu có đỏ lửa, nhưng vua Đinh chỉ là để khuyên răn những kẻ có dã tâm phạm tội nhìn thấy mà khiếp sợ, hơn là hiện thực hóa hình phạt. Để dựng nước, yên dân, diệt mầm loạn đảng, bớt việc sai lầm, vua mới cho đúc vạc lớn, nấu dầu sôi giữa sân điện, lại bắt hổ dữ cho vào cũi mà dọa kẻ nào manh tâm làm chuyện trái nghịch.

Đến đây phép xử án được bằng thẳng rõ ràng” (Theo  Đại Việt sử ký tiền biên  ).

Thế nên trong  An Nam chí lược  của Lê Tắc, khi viết về vua Lê Đại Hành, cũng là thời chưa có luật thành văn, phần thuật lại chuyến đi sứ của Tống Cảo năm Canh Dần (990) có viết về vua ta: “Bọn quan thuộc hễ ai thạo việc, thì chọn vào ở thân cận, ai phạm chút lỗi gì, thì đánh đuổi đi, khi hết giận, thì cho khôi phục chức cũ”.

Theo Kienthuc. Trong thời đoạn chuyển giao thời đại từ Bắc thuộc đi lên độc lập tự chủ, giang san mới có được nền nhất thống nguyên sơ, phải lo củng cố sức mạnh quân sự để chống chọi với sự xâm lăng trở lại của giặc phương Bắc, thế nên dễ hiểu là trong đội ngũ quan, cốt yếu là quan võ, ngay cả các vị vua thời Ngô, Đinh, Tiền Lê đều là những người giỏi về chiến trận, đánh dẹp hơn là văn nghiệp.