Theo nhịp khoan nhặt của vó câu thời gian, người dân chằm(1) những chiếc nón để che nắng che mưa khi làm đồng, đi thuyền, ra chợ rồi làm nên thư mục nghề nón của nước Nam. Trong những nếp nhà phẳng lặng, những người phụ nữ giản dị mà hết mực khéo và cần mẫn miệt mài chằm nón sau những giờ trồng lúa, trồng khoai, đun nấu, chăn lợn, nuôi gà. Những chiếc nón lá không cầu kỳ, phức tạp mà khiến lòng người xao xuyến mỗi khi cầm trên tay, đội lên đầu hoặc nhìn ngắm nón theo ai đi, về trong mỗi sớm, mỗi chiều. Và chiếc nón lá ấy đã hơn một lần neo vào thi ca vẻ đẹp đoan trang, dịu dàng của người con gái như trong câu thơ chan chứa cảm xúc băn khoăn ý nhị của chàng trai là thi nhân, sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón(2).
Trong mỗi lớp lá, mỗi nuột kim, những người phụ nữ của làng quê Việt Nam không ngờ rằng họ đang lặng lẽ giảng nghĩa về vẻ đẹp của từng chiếc nón. Chọn lá dừa, lá kè, lá cọ xong họ mang về ủi thật phẳng rồi vót mung, chuốt vành, tận tường xây tầng lớp lá lên khuôn nón, luồn kim từng sợi gấc mỏng manh mà chằm hết vành nón này đến vành nón khác, cho đến khi hoàn thành mũi gấc nứt vành rút cục. Đó là nét đẹp được những đôi bàn tay nhạy cảm và tinh tế gom từ những tàu lá dừa miền Nam, những đọt lá kè của núi rừng miền Trung, lá cọ miền Bắc, những cây lồ ô mảnh khảnh, những sợi gấc nhẹ mềm như tơ... Ở mỗi làng nón thường chỉ có một hoặc hai người có thể làm khuôn nón, từ khuôn nón bầu liêu hay nhọn, sâu hay cạn, mười bốn hay mười sáu hoặc mười tám(3) vành bằng gỗ có độ dai thật tốt, họ đã gửi vào đó trọn lòng kiên nhẫn, sự siêng năng và khéo léo# của mình. Những chiếc khuôn nón có độ bền rất lâu thường được tính bằng tuổi nghề làm nón của một nữ giới. Còn nữa, ở những làng nón, một nếp cũ mang ý nghĩa truyền đời là khi người con gái lấy chồng, trong những gì mà bố mẹ của cô cho làm của hồi môn luôn có chiếc khuôn nón. Người con gái đem chiếc khuôn nón ấy theo về nhà chồng như một tặng vật của làng quê ruột rà để cô có thể làm nón cho mẹ, chị và em gái của chồng hoặc gây dựng một làng nón mới. Về sau, con gái của cô khôn lớn, đến lượt mình, cô lại sắm cho con gái một chiếc khuôn nón khác... Trong mỗi nếp nhà thân thuộc ở những làng nón, khi vừa xong việc đồng áng, nấu chín bữa cơm gia đình, nhắc nhở trẻ nít chăm ngoan..., Chỉ bằng cái với tay là họ chạm vào lá, vào khuôn, vào vành. Với vài người ngồi bên nhau trong mái hiên nhà ủi lá, bắt vành, xây lớp, xâu kim, nứt vành(4), bỗng chốc đã xuất hiện một thế giới nhỏ, vui lành là nơi ra đời của những chiếc nón mà rồi ra sẽ theo cô học sinh nhỏ đến trường trong tà áo dài tha thướt, cùng cô thôn nữ tát nước đầu đình, che mưa nắng cho những bà, những mẹ tảo tần trên ruộng lúa, vườn khoai, bãi bắp, triền sông, nương dâu, chợ quê... Thế rồi, những chiếc nón bài thơ, nón lá dừa bắt đầu vẻ đẹp có sức lay động hồn người khi làm nên một nét duyên dưới ánh đèn sàn diễn. Duyên dáng làm sao dáng hình người con gái đi trong làn nắng của kim ô lên từ phía nón em nghiêng(5), nét hồn nhiên ấm áp khi hai mái đầu đôi bạn che chung chiếc nón trong cơn mưa chiều chợt..., Của điệu múa nón thanh thoát trên sân khấu trong các lễ hội văn hóa dân gian... Nghề nón là một nghệ thuật, mỗi chiếc nón là một tác phẩm nghệ thuật. Nên chi, những người nữ giới làm nón cũng là những nghệ sĩ mà mỗi khi chằm nón họ thường hát, hò đối đáp với nhau và trong buổi rạng đông tươi mới, êm đềm và rười rượi thanh thoát nào đó, họ gọi nhau cùng đi vào ngày hội chằm nón của làng. Đã rất lâu rồi, những chiếc nón lá làm dịu mát bao mái đầu người dân quê, đã tạo nên sức lan xa của nón lá Việt Nam tới các chân mây văn hóa muôn phương với những nét duyên trứ danh như nón Chuông, nón Huế... Dòng chảy bất diệt của nón lá Việt Nam mãi mãi là một trong những nguồn cội và biểu trưng của vẻ đẹp dân tộc cũng là giấc mộng trắng trong của lòng đứa ở những ngôi làng nón... Bội Nhiên (1): Tên gọi nghề nón ở vùng Bình Trị Thiên cũ (2): Thơ Trần Quang Long (3): Các từ ngữ dùng chỉ kiểu dáng và kích cỡ của nón (4): Các công đoạn làm nón (5): Thơ Thu Bồn |
